[Văn lớp 12] Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng ngắn gọn

0

PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN

QUANG DŨNG

Khi nhắc đến bài thơ “ Tây Tiến “ cho tôi nhớ đến tác giả Quang Dũng. Ông là một nhà thơ nổi tiếng ở Việt Nam ông rất đa tài, biết làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, viết văn…Một hồn thơ phóng khoáng và tâm huyết, tinh tế và lãng mạn. Bài thơ “ Tây Tiến” là bài thơ hay nhất của ông viết về người lính Trường Sơn, được in trong tập “ Mây đầu ô” năm 1948.

Phân tích bài thơ Tây Tiến

Tây Tiến là một đơn vị quân đội, thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vùng biên cương Tây Bắc Việt Nam và phối hợp với bộ đội Lào đánh Pháp ở Thượng Lào. Trong hoàn cảnh cực kỳ gian khổ sống giữa núi rừng heo hút, hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, thiếu thốn mọi bề. Nhưng các chiến sĩ Tây Tiến phần đông là các chàng trai Hà Nội vẫn lạc quan, anh dũng chiến đấu.

Quang Dũng là đại đội trưởng Tây Tiến từ đầu năm 1947. Đến cuối năm 1948 thì được điều động sang đơn vị khác. Năm 1948, ở Phù Lưu Chanh, nhớ đến đồng đội cũ, ông viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, sau đổi là “Tây Tiến”. Bài thơ là một kiệt tác của thơ ca Việt Nam hiện đại, thể hiện cảm xúc yêu mến, lòng khâm phục của tác giả trước vẻ đẹp hào hùng mà lãng mạn và tinh thần bi tráng của người lính Tây Tiến

Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ không nguôi về Tây Bắc. Những cuộc hành quân gian khổ của binh đoàn Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền bắc hùng vĩ hoang vu.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Cảm hứng chủ đạo siêng suốt bài thơ là nỗi nhớ da diết, bao trùm toàn bộ không gian thời gian. Bài thơ được viết trong hoàn cảnh tác giả ngồi ở đơn vị cũ nỗi nhớ trào dân khi ở đơn vị cũ. Nỗi nhớ đã thoát lên thành lời “ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!”. Không chỉ là nỗi nhớ mà còn là sự tiếc nuối. Sông Mã là nơi chỉ một vùng đất, tây Tiến là nơi tác giả đã có những năm gắn bó. Cách gieo vần ơi kết hợp với từ “ chơi vơi” ở câu thơ thứ hai. Từ nhớ được nhắc đến hai lần cho ta thấy được nỗi nhớ da diết.

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

“Sài Khao và Mường Lát” Là địa danh mà nhà thơ đã đi qua, để lại nỗi nhớ khôn nguôi. Trong nỗi nhớ thì mỗi ký ức đã hiện lên bằng hình ảnh sống động như vừa mới diễn ra. Những cuộc hành quân ở địa điểm hùng vĩ dữ dội và đầy nguy hiểm và thơ mộng.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thức lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Sử dụng các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” giàu giá trị tạo hình, diễn tả sự trắc trở của địa hình. Cả cầu thì có 5 chữ mang thanh trắc “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” nhằm nhấn mạnh cuộc hành quân của đoàn quân Tây Tiến đi qua địa bàn đèo dốc quanh co, lên cao mãi.

Nếu câu thứ nhất nhấn mạnh sự lên cao thì câu hai tác giả nhấn mạnh vào độ cao“ Heo hút cồn mây súng ngửi trời” ở câu này tác giả đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, phải chăng tác giả đang độ cao rất cao mới cảm nhận được là “ súng ngửi trời”. Cách sáng tạo hình ảnh “súng ngửi trời” người lính trèo lên ngọn núi rất cao gần tới tầng mây, và mũi súng chạm vào trời. Đó cũng là cách nghĩ hồn nhiên ví von sáng tác của người lính vì thế mà tác giả đã làm nên hình tượng này.

“Ngàn thức lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

Khi đọc tới câu thơ ta tưởng như câu thơ này được bẻ đôi, câu đối “lên cao, thước xuống”. Nơi địa bàn mà người lính đi qua dường như được dựng thành vách thẳng đứng, với độ cao chạm tầng mây, cho ta thấy được địa hình vô cùng dữ dội, hiểm trở. Ta có thể hình dung ra được dáng vóc và hơi thở của người lính. “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Cả câu thơ bảy chữ toàn thanh bằng, không chỉ mở ra một không gian xa và rộng mà ta có thể thấy đây cũng là chỗ dừng chân của người lính trên đường hành quân.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Với sự can trường dũng cảm của người lính, họ sẵn sàng cam trường dũng cảm. Những cuộc hành quân gian trường, khốc liệt đã khiến cho những chiến sĩ binh đoàn Tây Tiến không ít người đã ngã xuống.

“ Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”

Hai câu thơ này cho ta thấy được sự hi sinh của người lính trên đường hành quân hay chỉ là sự mệt mỏi thiếp đi của người lính. Dù như thế nào đi nữa ta cũng thấy rõ ở đây là sự khó khăn khốc liệt mà binh đoàn tây Tiến trải qua. “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” thấy được sự ngang tàn, cứng rắn.

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Cảnh núi rừng miền tây oan sơ hiểm trở, có cọp dữ, tất cả những khó khăn luôn rình rập bước chân người lính. Tại sao là cọp “ trêu người” nét tinh nghịch trẻ trung, hóm hỉnh của người lính Tây Tiến. Bút pháp lãng mạn được tác giả phát huy cao độ, vừa ghi lại những khoảnh khắc vừa tô đậm rừng thiêng nước độc như đoạn thơ trên được đẩy lên đến tuyệt đỉnh. Ở phương diện này thì không gian thơ mộng hiền hòa êm ái.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Câu thơ mở ra một cảnh tượng đầm ấm, dừng chân nghỉ ngơi ở bản làng sau một quá trình dài hành quân gian khổ. Hình ảnh quay quần bên nồi cơm chạm vào lòng mỗi người, giây phút thư giãn sau một trận dài hành quân.

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Đây là kỉ niệm đẹp về tình dân quân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền tây thơ mộng. Vẻ đẹp tuyệt mỹ thơ mộng và duyên dáng, là một người lính của binh đoàn Tây Tiến cũng như những chiến sĩ thì chắc hẳn sẽ bị hút hồn bởi cảnh đẹp nơi đây.

Đêm liên hoan thắm đượm tình dân quân, sự lôi cuốn trong tiếng nhạc, kèn, xiêm áo. Trong ánh sáng lung linh của hội đuốc hoa, tất cả như ngã nghiêng, ngây ngất vui chơi trong liên hoan. Các từ như  “bưng lên” thể hiện sự say mê, ngỡ ngàng và thích thú của những người lính Tây Tiến. Trong xiêm y rực rỡ quyến rũ, các cô gái dân tộc hiện ra thật đẹp, tất cả vẻ đẹp đã lôi cuốn thu hút hồn vía của các chàng trai, “ Viêng chăn” là biên giới bên kia Việt-Lào. Các bạn có biết không có phải thật sự nơi đây có cô xiêm áo không hay là do người lính nơi đây tự giả gái và tạo nên hình mẫu cho vui.

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bề

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Từ đầu đến giờ tác giả sử dụng khá nhiều thanh bằng. Tất cả gợi lên vẻ đẹp, không gian huyền ảo của sương và đó là một buổi chiều. Vẻ đẹp còn hoang dại. Cách sử dụng từ ngữ “ hồn lao, dáng người, hoa đông đưa” có sự cộng hưởng hô ứng với nhau, sao lại là “ hồn lao” mà không phải là bờ lao. Bởi bờ lao thì sẽ rất cụ thể mà ở đây là cảm nhận. Cách đặt câu hỏi thật đặc sắc “ Có thấy hồn lau nẻo bến bề, Có nhớ dáng người trên độc mộc”. Hình ảnh khỏe khoắn trẻ trung và đầy sức sống, “ hoa đông đưa” gợi lên sự đa tình như để làm nũn như là đang hấp dẫn những người trên đồi độc mộc, vẻ đẹp tinh tế tài hoa trong cách diễn đạt của tác giả. Cảnh vật như thiêng liêng, tưởng như đang lạc vào thế giới cõi mây.

Vẻ đẹp hào hùng tiếp tục được thể hiện qua bốn câu thơ tiếp theo, chân dung người lính hào hùng và hào hoa.

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Làn da xanh mái tóc không mọc do bệnh sốt rét rừng. Số người chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận, do điều kiện thiếu thốn khó khăn thiếu nước. Chiến tranh đi liền với nước mắt và đau thương, cũng như bao nhiêu người chiến sĩ khác người lính Tây Tiến phải chịu bao nhiêu khó khăn Tuy vậy họ vẫn hiên ngang ngang tàn bi nhưng không lụy, họ luôn ở tư thế chủ động sẵn sàng là “ không mọc tóc” chứ không phải là rụng tóc. Khẩu khí coi thường gian khổ, họ ốm nhưng không yếu. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Đây là đặc trưng riêng là mộng và mơ” của những chàng lính Hà Nội. Ý chí quyết tâm “Mắt trừng” giết giặc lập công, mơ giấc mơ thắng trận trở về gặp những dáng kiều thơm, những bóng dáng duyên xinh. Hẳn họ không phải là những người lính khô khan cứng rắn à còn rất lãng mạn.

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Những nấm mồ là có thật, tinh thần tự nguyện xả thân cho Tổ quốc cũng là có thật. Đó là hào khí của một thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Chính tinh thần lãng mạn đã là một điểm tựa giúp nhà thơ nói lên một vấn đề mà nhiều người lúc đó né tránh. Đã là chiến tranh thì phải có mất mát, hi sinh. Vấn đề là không rơi vào bi quan, là nhìn ra từ sự mất mát tầm vóc cao đẹp của sự hi sinh. Nhà thơ đã dùng những câu thơ sóng đôi, câu sau cắt nghĩa, lí giải cho câu trước. Những nấm mồ là có thật, tinh thần tự nguyện xả thân cho Tổ quốc cũng là có thật. Đó là hào khí của một thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Cái chết nơi chiến trường thật đơn sơ, giản dị. Anh nằm xuống không có cả manh chiếu bọc thây. Anh về lại đất mẹ như cái chết của anh đã được dòng sông Mã oai hùng cúi chào vĩnh biệt bằng những tiếng gầm đau đớn, uất hận. Tiếng gầm của dòng sông Mã ấy sẽ còn mãi mãi đến muôn đời.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ như lời thề gắn bó với Tây Tiến. Tinh thần thắm đượm tư tưởng và tình cảm cảm của người lính Tây Tiến, tinh thần sẵn sàng hi sinh cống hiến. Tình cảm gắn bó máu thịt của tác giả đối với binh đoàn Tây Tiến, đại từ phiếm chỉ “ai” có thể là Quang Dũng có thể là thành viên của binh đoàn Tây Tiến, hoặc là bất cứ ai đã từng gắn bó với Tây Tiến với mảnh đất Tây Bắc. Sự chiến đấu vì lý tưởng cao cả tinh thần Tây Tiến thì bất diệt.

Qua bài thơ Tây Tiến cho ta thấy được tài năng xây dựng hình ảnh người lính Tây Tiến sẵn sàng chiến đấu trong tư thế chủ động tuy khó khăn khó nhọc nhưng họ vẫn giữ cho mình tư thế hiên ngang và có phần ví von và tinh nghịch pha chút lãng mạn. Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến không mọc tóc sẽ mãi khắc ghi trong lòng của mỗi con người chúng.

Như vậy là bạn vừa xem xong nội dung phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà văn Quang Dũng. Chúc các bạn học tốt ngữ văn nhé.