Phân tích bài thơ vội vàng của Xuân Diệu ngắn gọn [Văn lớp 11]

0

PHÂN TÍCH BÀI THƠ VỘI VÀNG

Xuân Diệu

Xuân Diệu được coi là nhà thơ mới nhất trong phong trào thơ mới. Một cái tôi tự ý thức sâu sắc nhất. Mang đến một quan niệm hiện đại về nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ, giao cảm. Lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp thay vì lấy thiên nhiên như trong văn học trung đại. “Vội vàng” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám. Tác phẩm được rút ra từ tập “Thơ thơ” (1938), đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt.

Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Để hiểu hơn tác phẩm chúng ta có thể phân tích 13 câu đầu. Đó là vẻ đẹp trần gian và tình yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ Xuân Diệu.

Tôi muốn tắt nắng đi,

Cho màu đừng nhạt mất.

Tôi muốn buộc gió lại,

Cho hương đừng bay đi.

Bốn cầu đầu được tác giả làm theo thể thơ 5 chữ và sử dụng điệp từ “ tôi muốn” và đại từ xưng hô “tôi”. Có ý muốn nhấn mạnh đến khát vọng của cái tôi cá nhân: “ muốn tắt nắng, muốn buộc gió”. Nhưng nắng và gió là thuộc về thiên nhiên và vũ trụ. Tác giả muốn tước đoạt quyền của tạo hóa, muốn ngưng lại dòng chảy của thời gian và sự tuần hoàn của vũ trụ. Tiếp đến là cho màu đừng nhạt và cho hương đừng phai. Tác giả muốn lưu giữ hương sắc của thiên nhiên của cuộc đời.

Chín câu tiếp theo, Xuân Diệu đã chỉ màu hương và màu lá của ong bướm trong tuần tháng mật, là của hoa của đồng nội xanh rì, của cành tơ, của yến anh, đang ngay ngất trong khúc tình si. Hình ảnh thiên nhiên hiện lên quen thuộc và quyến rũ, đang rạo rực yêu đương và tràn ngập xuân tình.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

Thiên nhiên hiện lên ông bướm, yến anh tất cả điều có đôi có cặp, quấn quýt với nhau. “ tuần tháng mật” là thời khắc hạnh phúc nhất. Tất cả đều đang ngây ngất trong phút tình si, từ láy “ phơ phất” gợi nên cái gì đó mềm mại yểu điệu, như đang làm duyên với gió. Phải chăng tác giả miêu tả thiên nhiên nhưng ẩn bên trong đó là Xuân Diệu nhìn thiên nhiên qua lăng kính tình yêu. Nhìn qua đôi mắt non tơ, mơn mởn và cùng gửi đến thông điệp phủ nhận tư tưởng thoát li khẳng định nhân sinh quan tiến bộ, cần phải phát hiện ra vẻ đẹp ngay chính thể.

Tình yêu cuộc sống trần gian tha thiết, trung tâm của vẻ đẹp đó chính là con người. Cái táo bạo của Xuân Diệu thể hiện ở những câu tiếp theo. Quan niệm thẩm mỹ tiến bộ, nhà thơ đã lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp của thiên nhiên. Hình ảnh so sánh “chớp hàng mi, tháng giêng ngon như cặp môi gần”. Tháng giêng là phạm trù thuộc về thời gian thuộc về cái vô hình, còn cặp môi gần là cái hữu hình là biểu tượng cho tuổi trẻ cho tình yêu, khát vọng dục cảm đầy tinh khôi. Cách miêu tả này chỉ có ở Xuân Diệu.

Nếu như đoạn một tác giả miêu tả tình yêu tha thiết nơi trần gian thì ở đây tác giả cảm nhận về thời gian.

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian;

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

“Tôi sung sướng” nhưng “vội vàng một nữa”. Hình ảnh đối lập và bộc lộ niềm lo âu. Dấu chấm giữa câu như cảm xúc tương phản tồn tại trong một câu thơ và trong một con người, là hai mặt của tình yêu cuộc sống. Theo quy luật của tự nhiên thì xuân qua rồi sẽ đến mùa hạ mà tác giả nhớ xuân tới xuân ngay giữa mùa xuân cho thấy tác giả yêu xuân biết chừng nào. Mùa xuân ở đây có 2 tầng nghĩa, thứ nhất là xuân của thiên nhiên của đất trời, và thứ  hai là xuân của tuổi trẻ của tuổi tác. Tác giả quan niệm không chờ nó qua đi mới tiếc, mà ngay lúc này tác giả đã tiếc. Vì tuổi xuân tuổi trẻ là phần ngon nhất của cuộc đời. Thời gian trôi đi là thời gian không trở lại.

“Đương tới, đương qua, non già” cặp động từ, tính từ đối lập, cho ta thấy được bước đi khốc liệt của thời gian. Ông nhìn thấy xuân hiện tại phút chốc sẽ trở thành quá khứ, sẽ qua đi, sẽ già nua. “Từ đương” như hiện tại và quá khứ diễn tả đồng thời, nỗi lo âu của tác giả thì việc chưa xảy ra. Thời gian của vũ trụ thì tuần hoàn nhưng của tuổi tác thì không trở lại nữa.

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt….

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa

Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm,

Cảm nhận thời gian đầy tính mất mát. “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, khắp sông núi đều than thầm tiễn biệt” mỗi sự vật trong vũ trụ đều đang ngậm ngùi chia ly. Chia tay với con người với không gian và chia tay với chính mình. Tác giả miêu tả thời gian bằng khứu giác “vị, mùi” “rơm” như giọt nước mắt của thời gian. Xuân Diệu nhìn sự vật ở hai thì vừa tươi sắc vừa phai, qua thời gian thì sẽ chuyển từ tươi sang phai.

“Cơn gió xinh” sợ phải bay đi, chim đang rộn ràng thì đứt tiếng reo thi, sợ độ phai tàn, cảm giác về sự mong manh của hạnh phúc. Sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân, sự trân trọng nâng niu cuộc sống đang tồn tại. Hai câu cuối của khổ thơ này thể hiện sự gấp tranh thủ từng giây phút để hưởng thụ hưởng cái đẹp của thiên nhiên của tuổi trẻ. “Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa, Mau đi thôi! Mùa đã ngã chiều hôm.

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Ở khổ cuối của đoạn thơ nhịp điệu tăng dần dường như nhanh hơn, quyết liệt hơn. Vội vàng tận hưởng giây phút của mùa xuân của tuổi trẻ của cuộc sống. Khát vọng muốn tước quyền tạo hóa không thành. Có sự thay đổi về số chữ trong câu thơ “ta muốn ôm”, có tác dụng như một điểm nhấn mạnh mẽ, dường như ông đang vang tay ôm trọn cuộc sống vào lòng. Điệp từ ta muốn thể hiện sự khát vọng cháy bỏng, nhịp hối hả, nhịp con tim mạnh nhất dài nhất. Cách sử dụng ngôn ngữ, động từ mạnh “ôm, riết, say, thâu, hôn, cắn” có sự tăng dần về tốc độ. Thể hiện khát vọng chiếm lĩnh, bám chặt hơn, như kim nam châm hút vào vạn vật. “Mây đưa, gió lượn”, muốn thâu, muốn hôn tất cả mọi thứ hạnh phúc tình yêu đang ở độ nồng nàn nhất cho no nê cho thỏa ước nguyện. Kích thích tất cả các giác quan để cảm nhận.

Điệp từ “ và” lập lại 3 lần lột tả sự ham hố, giao cảm cháy lòng của nhà thơ. Các tính từ láy “chếnh choáng, đã đầy, no nê” diễn tả trạng thái hưởng thụ đầy thỏa thích diễn tả sự viên mãn cái ngất ngây trong men say tình của tác giả. Câu thơ cuối thật mạnh mẽ táo bạo “hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Khát khao vồ vập của mình với cuộc sống, có vẻ hơi thổ lỗ mãnh liệt nhưng tạo nên cái mới mẻ trong thơ Xuân Diệu. Cách ứng xử cuộc sống đó là sự ý thức về cuộc sống, lòng ham sống, mỗi giây phút trôi qua phải trân trọng.

Qua bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu cho ta thấy được tác giả đã thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết. Giọng điệu, hình thức câu thơ thay đổi linh hoạt với một thế giới hình ảnh đa dạng và phong phú đã tạo nên sức hấp dẫn của thi phẩm. Đặt bài thơ trong không khí của Thơ mới thì mới cảm nhận được tình yêu cuộc sống của nhà thơ mãnh liệt đến chừng nào. Những sáng tạo của Xuân Diệu trong “Vội vàng” đã góp phần đánh dấu bước phát triển mới của thơ ca Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Cái Tôi cá nhân đã có những bước đi đàng hoàng và chắc chắn lên văn đàn văn học Việt Nam.