Thuyết minh về nón lá Việt Nam có sử dụng biện pháp nghệ thuật [Văn lớp 9]

0

THUYẾT MINH VỀ NÓN LÁ

“Ai ra xứ Huế mộng mơ

Mua về chiếc nón bài thơ làm quà.”

Đã từ lâu, bên cạnh chiếc áo dài truyền thống là hình ảnh những chiếc nón lá tuy giản dị nhưng vô cùng tinh tế. Nón lá đã trở thành một chất liệu quen thuộc trong thơ ca, lại chính là vật dụng quen thuộc của người dân đất Việt.

Thuyết minh về nón lá Việt Nam có sử dụng biện pháp nghệ thuật

Chiếc nón lá xuất hiện từ rất lâu đời, hình ảnh tiền thân của nó đã xuất hiện trong các hình ảnh điêu khắc trên trống đồng vào khoảng 2500-3000 năm trước công nguyên. Từ xa xưa, chiếc nón lá luôn gắn liền với con người Việt Nam nói riêng và các nước trong khu vực châu Á nói chung, từ công việc đồng áng đến các hoạt động sinh hoạt bình thường. Để tạo ra một chiếc nón lá giản dị như vậy đòi hỏi một sự tỉ mẩn và kì công vô cùng lớn.

Trước hết, phần khung của nón lá được tạo thành bởi mười sáu nan tre được vót cho thật nhỏ và nhẵn bóng, sau đó người thợ sẽ uốn chúng thành những vòng tròn với đường kính từ lớn đến nhỏ. Vòng khung có đường kính lớn nhất vào khoảng năm mươi xen-ti-met và nhỏ nhất thì chỉ bằng một đồng xu, được xếp dần lên tạo thành hình chóp nhọn. Tiếp sau đó, người thợ sẽ phủ lên khung nón nhiều lớp lá. Lá được dùng trong khâu này có thể là lá dừa hoặc lá cọ, nhưng lá cọ thường chiếm ưu thế hơn bởi độ đẹp và chắn chắc trong gia công. Lá cọ được chọn phải non vừa độ, gân lá phải còn xanh còn màu lá phải có màu trắng xanh. Lá được sấy trên bếp than, sau được phơi sương từ hai đến bốn giờ cho mềm, rồi dùng một búi vải và một miếng gang đặt trên bếp than có độ nóng vừa phải để ủi sao cho từng chiếc lá được phẳng. Mỗi chiếc lá đều được chọn lựa kĩ càng và cắt với cùng độ dài là 50 xen-ti-met.

Sau khi người thợ xếp lá thành những lớp khít và đều nhau, công việc tiếp theo phải làm là chằm nón. Nón được chằm bằng sợi nilông dẻo, dai, săn chắc và phải có màu trắng trong suốt. Các lá nón không được xộc xệch, đường kim mũi chỉ phải đều tăm tắp. Sau khi hoàn tất mọi công đoạn, người thợ còn phết lên mặt nón một lớp dầu bóng rồi mang đi phơi khô, vừa giúp nón thêm phần đẹp, lại giúp nón có thể được sử dụng bền lâu. Khoảng nan tre thứ ba hoặc thứ tư bên trong mặt nón, người dùng thường kết chỉ ở hai bên đối xứng để có thể buộc thêm những dải lụa nhiều màu sắc làm quai, vừa giữ nón không rơi rớt trong quá trình sử dụng, vừa tăng sự duyên dáng cho chủ nhân của nó.

Chiếc nón lá là người bạn thân thiết trong lao động và sinh hoạt. Người nông dân ra đồng cũng mang nón lá, bà hay mẹ đi chợ cũng không thể quên, hay có việc ra ngoài giữa trưa nắng gắt cũng tiện tay mang chiếc nón lá theo cùng,…Nón lá che mưa, che nắng rất tốt nên rất được ưa chuộng. Không những thế, trong những buổi trưa hè nóng bức, chiếc nón lá đôi khi được thay thế cho chiếc quạt nan, xua tan đi cái nóng ngột ngạt. Chiếc nón lá là hình ảnh quen thuộc trong các điệu múa dân gian, là thi liệu trong thơ ca nhạc họa,…hay chỉ đơn giản hơn, một chiếc nón lá kết hợp với một tà áo dài cũng đủ để lột tả vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Dù xã hội có hiện đại, dù có nhiều loại nón mũ khác ra đời, chiếc nón lá cũng dần ít được sử dụng. Nhưng hình ảnh chiếc nón thân quen ấy luôn tồn tại trong tâm hồn người Việt như một nét đẹp văn hóa không thể xóa nhòa.

Các bạn vừa tham khảo xong bài viết thuyết minh về nón lá Việt Nam có sử dụng biện pháp nghệ thuật. Đây là bài viết được một bạn lớp 9 chia sẻ. Chúc các bạn học tốt ngữ văn.